Trẻ em đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi hay cơ địa suy giảm miễn dịch cần được tầm soát và điều trị dự phòng bệnh Lao khi có tiếp xúc với người bệnh Lao. Việc dự phòng lao có thể giảm 70-80% khả năng bị bệnh lao cho trẻ

Dự phòng bệnh lao cho trẻ em có tiếp xúc với người bị lao

Dự phòng bệnh lao cho trẻ em có tiếp xúc với người bị lao

Bs. Nguyễn Ngô Vi Vi

Nguyên bác sĩ khoa Nhi bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Trung tâm điều trị bệnh hô hấp Phổi Việt

1.     Trẻ em – Những nguy cơ đặc biệt từ lao

  • Bệnh lao ảnh hưởng chủ yếu đến phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng tới các bộ phận khác của cơ thể. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thường chịu những tác động nặng nề do mắc các bệnh như viêm màng não lao (gây mù, điếc, liệt hay tâm thần), mắc lao đa kháng thuốc (đòi hòi điều trị kéo dài, tốn kém với các tác dụng phụ do thuốc rất nặng) và cũng rất dễ tử vong.
  • Ít nhất một nửa triệu trẻ sơ sinh và trẻ em bị bệnh lao mỗi năm và khoảng 70.000 trẻ tử vong vì căn bệnh này. Trẻ dưới 3 tuổi và những người bị suy dinh dưỡng hay suy giảm hệ miễn dịch là những đối tượng dễ mắc lao nhất.
  • Thuốc chủng ngừa duy nhất hiện đang có sẵn cho bệnh lao là vi khuẩn Bacillus Calmette-Guérin (BCG), trong đó cung cấp bảo vệ hạn chế chống lại các hình thức nghiêm trọng của bệnh lao, chẳng hạn như viêm màng não lao, ở trẻ nhỏ.
  • Tuy nhiên, BCG chỉ tạo sự bảo vệ đến khi trẻ 15 tuổi và không an toàn khi sử dụng ở trẻ em sống chung với HIV
  • Do đó, trẻ em đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi hay cơ địa suy giảm miễn dịch (suy dinh dưỡng, nhiễm HIV…) cần được tầm soát và điểu trị dự phòng bệnh Lao khi có tiếp xúc với người bệnh Lao. Việc dự phòng lao có thể giảm 70-80% khả năng bị bệnh lao cho trẻ.

 

                

             Một trường hợp lao hạch và lao phổi rất nặng ở trẻ 2 tuổi

 

2.     Đối tượng trẻ được sàng lọc trước khi điều trị dự phòng Lao

  •  Trẻ từ 0-14 tuổi (đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi) tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, tức là trẻ sống chung với cha mẹ, ông bà, người  thân bị lao, ho khạc ra đàm có vi khuẩn lao (xét nghiệm đàm soi trực tiếp dương tính: AFB +) trong vòng 3 tháng gần đây.
  • Tất cả trẻ 0 đến 12 tháng tuổi nhiễm HIV (hoặc có mẹ bị HIV) bị phơi nhiễm lao do tiếp xúc với thành viên trong gia đình mắc bệnh lao .
  • Tất cả trẻ trên 12 tháng tuổi nhiễm HIV, kể cả trẻ đã từng được điều trị lao

 

3.     Các bước sàng lọc trước khi tiến hành điều trị dư phòng Lao:

Việc sàng lọc phải được thực hiện bởi bác sĩ tại các cơ sở y tế

BƯỚC 1: Tìm kiếm các dấu hiệu nghi mắc lao

  • Ho hoặc thở khò khè?
  • Sốt?
  • Sụt cân?
  • Đổ mồ hôi trộm về đêm?
  • Hạch?

Nếu không tìm thấy dấu hiệu nào, chuyển sang Bước 3 (bỏ qua bước 2)

Nếu có ít nhất một trong các dấu hiệu nêu trên, chuyển sang Bước 2

BƯỚC 2:  Đánh giá triệu chứng

Nếu trẻ có các triệu chứng nghi ngờ Lao ở bước 1 sẽ được các bác sĩ thăm khám, theo dõi và làm thêm một số xét nghiệm để tìm nguyên nhân, chẩn đoán và cân nhắc điều trị bệnh Lao.

Nếu các triệu chứng trên đã được bác sĩ loại trừ không phải là bệnh Lao, trẻ sẽ được tiếp tục chuyển sang bước 3

BƯỚC 3: Rà soát ba chống chỉ định điều trị dự phòng Lao bằng INH dưới đây:

Phản ứng với INH (đã từng bị sốt, phát ban hoặc viêm gan do điều trị bằng INH)?

Viêm gan cấp tính hoặc mạn tính (vàng da, tăng men gan..)

Bệnh thần kinh ngoại vi (cảm giác kim châm, tê bì, yếu hoặc có cảm giác đau bỏng rát ở các chi)?

Nếu không có chống chỉ định nào trong 3 trường hợp nêu trên, bắt đầu điều trị dự phòng Lao

 

4.     Điều trị dự phòng Lao ở trẻ em:

Trẻ em đă được sàng lọc và loại trừ bệnh Lao sẽ được điều trị dự phòng Lao liên tục trong vòng 6 tháng bằng thuốc kháng Lao Isoniazid uống mỗi ngày với liều lượng theo cân nặng.

Trẻ có thể được bổ sung thêm Vitamin B6 để giảm tác dụng phụ của thuốc INH

 

5.     Theo dõi và tuân thủ điều trị dự phòng Lao bằng INH:

  • Trẻ điều trị dự phòng Lao phải uống thuốc và tái khám theo hẹn  mỗi tháng trong vòng 6 tháng
  • Nếu quên cho bé uống thuốc thì phải báo ngay cho bác sĩ đang theo dõi.
  • Theo dõi tác dụng phụ của thuốc trong suốt quá trình điều trị, tái khám ngay khi bé có các triệu chứng sau:
  • Nôn, buồn nôn, đau bụng, vàng da, mệt mỏi không rõ nguyên nhân
  • Co giật, khó khăn trong diễn đạt, khó tập trung
  • Tái khám ngay khi trẻ có các triệu chứng nghi ngờ lao như nêu trên (sốt, ho, sụt cân…) trong suốt quá trình điều trị dự phòng lao.

KẾT LUẬN

Khi trẻ có tiếp xúc với người bệnh lao, hãy đưa trẻ đến khám và kiểm tra ngay tại các cơ sở y tế có chuyên khoa Lao. Nếu trẻ mặc bệnh Lao sẽ được điều trị theo Chương trình chống Lao quốc gia kịp thời. Nếu trẻ chưa bị bệnh Lao và nằm trong nhóm đối tượng cần dự phòng Lao, trẻ sẽ được theo dõi và điều trị dư phòng bằng INH tại cơ sở y tế có chương trình dự phòng Lao.

Bài viết gần đây

15-09-2017

Vi trùng lao rất dễ đề kháng thuốc lao. Nếu  không tuân thủ điều trị đúng cách thì hậu quả là không khỏi bệnh; tạo vòng vi trùng kháng thuốc khó chữa có nguy cơ tử vong , tạo nguồn lây kháng thuốc

17-07-2017

Lao vú là một thể lao ngoài phổi hiếm gặp thường xảy ra độc lập với lao phổi. Lao vú thường gặp phụ nữ 19 – 45 tuổi, đặc biệt là phụ nữ trẻ trong độ tuổi sinh nở và cho con bú

17-07-2017

Lao

Lao là một bệnh do vi trùng, lây chủ yếu bằng đường hô hấp, nghĩa là do hít phải vi trùng lao vào phổi. Bệnh truyền từ người này sang người khác.Bệnh lao không có tính di truyền.